CHƯƠNG 5: GIỚI ĐIỀU
❖ ❖ ❖

Thanh Quy

Tập Hợp Giới Điều, Kỷ Luật và Quy Định Thiền Tự

0 / 69Mục đã thuộc
0%Tiến độ tổng
92Đoạn văn
Chương 5Trang sách 56

CHƯƠNG 5: GIỚI ĐIỀU

Lời mở đầu

Tr. 56

Giới điều được nêu ra trong đây chính là những Giới chủ yếu rút từ giới bổn Tỳ Kheo và thêm những Giới điều mới do Giáo hội Phật giáo Việt Nam biên soạn, nhằm đáp ứng các nhu cầu của thời đại mới. Giới bổn Tỳ Kheo vẫn là thiêng liêng để thọ trì và áp dụng, còn những Giới điều trong Thanh quy này là sự ứng dụng khế lý khế cơ. Việc vi phạm một hoặc nhiều Giới điều trong đây có thể chấm dứt tư cách Tu sĩ của người đó, hoặc có thể bị một sự trách phạt nghiêm khắc.

A. Giới quan trọng

1. GIỚI DÂM

Tr. 56

Tu sĩ không được hành dâm với bất cứ hình thức nào. Nếu chưa thể nhờ công phu Thiền định để diệt trừ được ái dục thì Tu sĩ phải mỗi ngày lễ Phật phát nguyện nghiêm giữ sự trong sạch thân tâm, tránh xa ái dục, ngăn chặn ái dục từ những ý niệm nhỏ nhặt.

2. GIỚI SÁT

Tr. 57

Tu sĩ không được sát hại con người, thú vật lớn, thú vật bé vì lòng ác độc, ích kỷ, hoặc tiêu khiển; Tu sĩ không được ngược đãi, đối xử tệ hại với chúng sinh, mà phải dùng lòng từ bi để cư xử với muôn loài một cách tử tế. Nhưng Tu sĩ sẽ ủng hộ những ai khai Giới sát vì bảo vệ Quốc gia, Đạo Pháp, và môi trường sống của hành tinh.

3. GIỚI TRỘM CẮP

Tr. 57

Tu sĩ không được chiếm đoạt vật sản của người khác mà không xin phép, không phải của mình, không được người đó cho tặng, hoặc người đánh rơi; cũng không được nhận lấy vật sản xuất phát từ sự sợ hãi, từ sự cố ý mua chuộc, hối lộ, nhất là các Tu sĩ hàng chức sắc càng phải gương mẫu rất nhiều. Tu sĩ cũng không được cờ bạc.

4. GIỚI DỐI XƯNG ĐẮC ĐẠO

Tr. 57

Tu sĩ không được dối trá xưng mình đã chứng Thánh đắc đạo để mong cầu sự cung kính của chúng sinh. Một lần nói dối như thế là mất cả nghìn kiếp công phu. Ngay cả khi có được kết quả tâm linh nào đó, Tu sĩ cũng phải biết là còn rất xa đạo quả cứu cánh để không được khoe khoang, kiêu mạn.

5. GIỚI HỦY BÁNG TAM BẢO

Tr. 58

Tu sĩ không được nói lời hạ thấp giá trị Đức Phật, mà phải nói lời tôn kính Phật tha thiết; Tu sĩ không được nói lời xem thường giáo Pháp, Kinh điển của Phật, mà phải nói lời cung kính ca ngợi Kinh điển; Tu sĩ không được nói lời xem thường chư vị Thánh Tăng, không được nói lời xem thường Tăng đoàn, mà phải nói lời tôn kính chư Thánh Tăng, quý trọng Tăng đoàn.

6. GIỚI PHÁ HÒA HỢP CHÚNG

Tr. 58

Tu sĩ không được kết thân riêng để tạo thành bè phái ngay trong Tự viện, ngay cả cũng không được chấp riêng tông phái để tạo thành sự phân hóa trong đạo Phật. Tu sĩ không được công kích, gây gổ lớn tiếng, không được đánh lộn, không được nói xấu sau lưng, không được thuật chuyện qua lại gây ác cảm giữa huynh đệ, không được vu khống.

7. GIỚI SỬ DỤNG CHẤT SAY NGHIỆN

Tr. 59

Tu sĩ không được dùng các chất gây say nghiệm như rượu và ma túy, ngoài ra, cũng không được hút thuốc và uống bia. Nhân loại văn minh đang kêu gọi từ bỏ những thứ này, thì Tu sĩ càng phải gương mẫu hơn.

8. GIỚI BÍ MẬT NGHE LỜI NGƯỜI KHÁC MÀ TRỤ TRÌ KHÔNG HAY BIẾT, BỎ QUA, KHÔNG CHỊU TRÌNH BÁO KẺ LÉN LÚT TÁC ĐỘNG XẤU VÀO ĐẠI CHÚNG

Tr. 59

Khi thấy hay nghe bất cứ ai rỉ tai nói riêng những điều bất thường, có tính tác động làm dao động huynh đệ, thì không được bỏ qua mà phải báo Sư Phụ Trụ Trì lập tức, vì những điều rất nhỏ có khi giấu đằng sau một âm mưu lớn làm tan vỡ cả chùa.

Đại nạn của Phật Giáo xảy ra do các thế lực ngầm chen vào chi phối, tác động tu sĩ Phật Giáo. Vì vậy, các tu sĩ phải giữ lòng không được nghe ai móc nối, tác động để bảo vệ Phật Pháp bền vững.

9. GIỚI PHẢN BỘI

Tr. 60

Tu sĩ không được phản bội Phật pháp, Tổ Quốc, Thầy tổ.

Mục đích của giới không phản bội là ngăn cấm sự phản bội giữa con người với con người, giữa con người với những tình cảm thiêng liêng khác. Điều này bắt buộc người Tu sĩ phải sống sắt son, trung thành tuyệt đối, để xây dựng đạo đức chân chính từ thẳm sâu trong tâm hồn, từ đó xây dựng sự đoàn kết, kỷ cương, đáng tin cậy giữa con người với nhau, góp phần tạo nên sức mạnh của đạo Phật, của quốc gia, dân tộc, và tình cảm tốt đẹp trong sự tương quan giữa người và người.

B. Các giới cần thiết

10. GIỚI NÓI SAI SỰ THẬT

Tr. 61

Tu sĩ không được nói sai sự thật, nhất là để khoe khoang, đùa giỡn, châm chích... Tuy nhiên, chỉ được nói sự thật cho người đáng nghe, và cũng không được nói nhiều.

11. GIỚI THOÁT RA NGOÀI SỰ GIÁM SÁT

Tr. 61

Tu sĩ không được thoát ra ngoài sự giám sát của Đại chúng và Thầy Tổ, làm việc gì phải trình báo, không được tự ý ở nơi vắng vẻ, không được tự ý làm việc gì mà không có sự cho phép, không được tự ý tạo mối quan hệ thân tình với người ngoài, không được đi ra ngoài mà không xin phép.

Nếu người Ni sơ hở về những biện pháp tự bảo vệ mình là vi phạm Thanh quy, không được ở Chùa nữa.

12. GIỚI KHÔNG THÀNH TÂM NGHE CHỈ LỖI

Tr. 62

Tu sĩ khi được bất cứ ai chỉ lỗi phải hoan hỷ và cám ơn thật lòng, mặc dù chưa chắc sự chỉ lỗi đó đã chính xác. Không được có thái độ phản kháng, bướng bỉnh, trả đũa, chỉ trích trở lại.

13. GIỚI KHÔNG BIẾT VÂNG LỜI

Tr. 62

Tu sĩ phải trọn lòng vâng lời Sư trưởng, người trên của mình, không được chống trái, phải xem mệnh lệnh của Sư trưởng, người trên là quý giá để tuân hành làm theo.

14. GIỚI LƯỜI BIẾNG

Tr. 62

Tu sĩ không được lười nhác trong việc tu tập, học hỏi và tạo công đức. Phải nỗ lực không ngừng để tăng tiến trong công phu, kiến thức đạo lý, và chiêu tập công đức cả đời.

15. GIỚI THIẾU NHIỆT TÂM GIÁO HÓA

Tr. 63

Tu sĩ phải có tâm huyết trong việc truyền bá giáo Pháp cho chúng sinh không ngại khó khăn, không nghề gian khổ; phải nguyện lòng sẽ đưa được nhiều người về Quy Y Tam Bảo, hoặc xuất gia, hoặc chuyên tu.

16. GIỚI PHẢN BỘI DÂN TỘC VÀ ĐẠO PHÁP

Tr. 63

Tu sĩ không được phản bội Dân tộc và Đạo Pháp với những hành động tiếp tay cho ngoại bang và ngoại đạo gây tổn hại đến Quốc gia và sự phát triển của Phật Pháp; phải là công dân gương mẫu và là đệ tử Phật tuyệt đối trung thành.

17. GIỚI MẤT CẢNH GIÁC BẢO VỆ NỘI BỘ

Tr. 63

Khi có ai đến xưng là người của Nhà nước hoặc của tổ chức Phật giáo rồi rỉ tai Tu sĩ để hứa hẹn và móc nối riêng, Tu sĩ phải lập tức báo cho Trụ trì.

📖 [Trang sách 64] Khi có người nào trong Chúng có dấu hiệu ưu ái riêng với mình để kết phe riêng, hoặc rỉ tai gây tâm lý bất mãn nội bộ, Tu sĩ phải báo ngay cho Trụ trì.

📖 [Trang sách 64] Nếu bất cứ ai nói nửa lời khác với quan điểm giáo lý tu học của Sư Phụ Trụ trì, hoặc từng bước tìm cách hạ thấp uy tín của Sư Phụ Trụ trì hay Ban Quản Viện, Tu sĩ phải lập tức báo lại cho Sư Phụ Trụ trì biết ngay, vì có thể đây là âm mưu lớn, tổ chức lớn.

📖 [Trang sách 64] Người nói xấu thường có hai hạng:

📖 [Trang sách 64] Một là, hạng người không biết tu, tự mình đi nói xấu người khác. Hạng người này không nên ở Chùa.

📖 [Trang sách 64] Hai là, hạng người có tổ chức, được gài vào để nói xấu, gây hoang mang trong nội bộ. Hạng người này không xứng ở Chùa và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Đại chúng, trước Giáo hội, thậm chí trước pháp luật.

📖 [Trang sách 65] Người nghe nói xấu cũng có hai hạng:

📖 [Trang sách 65] Một là, nghe người khác nói xấu rồi đồng tình. Như vậy là đồng lõa.

📖 [Trang sách 65] Hai là, nghe người khác nói xấu, không đồng tình, nhưng cũng không phản kháng, không báo lại cho Sư Phụ và Ban Quản Viện.

📖 [Trang sách 65] Cả hai hạng này cũng không nên ở chùa.

18. GIỚI KHÔNG COI NGÓ KIỂM SOÁT MỌI THỨ CỦA TU VIỆN

Tr. 65

Tu sĩ có nhiệm vụ quan sát coi ngó kiểm soát mọi thứ của Tu viện để giữ an toàn ổn định trật tự cho Tu viện. Phát hiện điều gì bất thường phải thông báo nhanh chóng cho nhau để kịp thời xử lý. Đại chúng phải được tập huấn nhiệm vụ, cơ chế, phương pháp để cùng nhau quan sát mọi thứ của Chùa trong mọi lúc.

Những Giới điều trong đây phải được Tự viện cho Tu sĩ tụng đọc hàng ngày để ghi khắc đậm sâu trong tâm thức. Ai vi phạm phải bị xử lý nghiêm khắc để bảo vệ Tăng đoàn khỏi những điều xấu ác.

Lời kết Chương 5

Tr. 66

Người lãnh đạo Tự viện phải kiểm soát sự thọ trì Giới Luật này để bảo đảm Tự viện mình không có sự sai phạm, và đó cũng là thành tích để dâng lên Giáo hội.

Chương 6Trang sách 67

CHƯƠNG 6: KỶ LUẬT

Nội dung Kỷ luật

Tầm quan trọng của Kỷ luật

Tr. 67

Tự viện áp dụng quy chế kỷ luật nghiêm ngặt để góp phần tạo lại nề nếp chặt chẽ cho Phật giáo. Phật giáo suy yếu vì ít kỷ luật, từng chùa suy yếu vì thiếu kỷ luật. Vì vậy, Tự viện cố gắng áp dụng kỷ luật để góp phần chấn chỉnh Phật giáo.

Định nghĩa Kỷ luật

Tr. 67

Kỷ luật được định nghĩa là sự chấp hành mệnh lệnh của người trên một cách toàn vẹn và nhanh chóng. Kỷ luật cũng là chấp nhận sự kiểm soát của người trên hoàn toàn, luôn báo cáo mọi việc theo quy định, và báo cáo chính xác; vui vẻ nhận lấy hình thức phạt mỗi khi người trên cho hình phạt.

Chấp hành mệnh lệnh

Tr. 67

Khi lệnh của người trên như Bổn sư, Chúng trưởng, Ban Quản Viện đưa ra, Tu sĩ phải chấp hành trọn vẹn và nhanh chóng, không do dự, chần chừ, dù có khi ta chưa hiểu hoặc chưa đồng tình. Người đưa ra lệnh là người chịu trách nhiệm chứ không phải là người thừa hành. Ta có quyền góp ý

📖 [Trang sách 68] kiến khi được hỏi ý kiến, nhưng nếu người trên đã quyết định rồi thì ta trọn lòng thi hành mà không vướng mắc gì trong lòng nữa. Đây là căn bản số một của tinh thần kỷ luật mà Tu sĩ của mỗi Tu viện phải thực hiện triệt để.

Mệnh lệnh bất thường và thông thường

Tr. 68

Có những mệnh lệnh bất thường, có những mệnh lệnh thông thường. Lệnh bất thường là lệnh giải quyết các công việc tùy theo tình huống. Lệnh thông thường là những quy định, thời khóa, giờ giấc... đã được dạy từ ban đầu mà Tu sĩ phải tuân thủ nghiêm ngặt suốt đời.

Đặt mình trong sự kiểm soát

Tr. 68

Tu sĩ phải đặt mình vào sự kiểm soát của người trên một cách hoàn toàn, không làm gì mà người trên không biết. Ngoài việc thi hành các mệnh lệnh của người trên, nếu có đi đâu, làm gì, Tu sĩ đều phải tìm cách báo cho Ban Quản Viện rõ ràng, chính xác.

Chế độ báo cáo và Sổ Nhật trình

Tr. 68

Tu viện thực hiện chế độ báo cáo kỹ lưỡng của từng cá nhân như sau: Mỗi người có một cuốn sổ tay nhật ký ghi chép những việc làm trong ngày, những cuộc tiếp xúc trong ngày để cho Ban Quản Viện kiểm tra. Ban Quản Viện sẽ chắt lọc những báo cáo đó để báo cáo lại cho Bổn sư Trụ trì một

📖 [Trang sách 69] cách tổng quát và những sự kiện nổi bật. Tu sĩ cố gắng thực hiện việc báo cáo đều đặn như thế là góp phần xây dựng kỷ luật cho Tu viện được chặt chẽ.

Báo cáo công việc bên ngoài

Tr. 69

Những khi đi ra ngoài làm việc, Tu sĩ phải về báo cáo lại diễn tiến công việc đầy đủ. Những người trong Ban Quản Viện phải có bổn phận thu thập theo dõi các báo cáo của Tu sĩ không sót. Chính việc theo dõi sự báo cáo của Tu sĩ sẽ góp phần làm cho kỷ cương của Chùa tốt lên dần dần.

Công đức và tâm thái chịu kỷ luật

Tr. 69

Công đức của Tu sĩ hình thành từ việc thực hành tu tập và thực hiện Thanh quy đầy đủ, công đức đó tạo nên sự nghiệp tu hành tốt đẹp từ bên trong lẫn bên ngoài. Bổn sư hoặc Ban Quản Viện có khen thưởng cũng chỉ là tương đối. Nhưng ngược lại, những khi Tu sĩ vi phạm thì sẽ bị một hình thức kỷ luật nào đó do người trên đưa ra. Tu sĩ phải hoan hỷ chấp nhận sự khiển trách của người trên như là một cơ hội cho mình rèn luyện đạo lực và chuộc lại lỗi lầm, không được có tâm giận hờn, phiền não. Nếu phiền não, giận hờn thì hình phạt sẽ được gia tăng.

Bảo vệ nội bộ trước ngoại duyên

Tr. 69

Ngày nay, tình hình tôn giáo trên thế giới rất là xáo trộn, nhiều tôn giáo đã dùng thủ đoạn để phá

📖 [Trang sách 70] hoại Phật giáo. Tu sĩ cần phải giữ kỷ luật để không bị bên ngoài xen vào gây hoang mang, chia rẽ nội bộ của Tu viện. Những cuộc tiếp xúp riêng tư, qua điện thoại, qua thư từ... đều dễ bị nguy cơ có kẻ xấu gieo rắc sự phá hoại vào nội bộ. Nếu Tu sĩ luôn luôn báo cáo đầy đủ thì kẻ xấu ít có cơ hội chen vào tác động, cũng như những cám dỗ thế gian ít xâm nhập vào cuộc sống tu hành. Nếu Tu sĩ nghe điều gì, làm điều gì rồi lặng lẽ một mình mình biết, thì đó chính là kẽ hở cho các âm mưu và cám dỗ đi vào nội tâm của mình.

Vâng lời để diệt trừ bản ngã

Tr. 70

Khi đi tu, ta không còn là của mình nữa mà đã trở thành của Phật, của Bổn sư, của Đại chúng. Vì vậy, ta luôn cố gắng không chấp ý riêng của mình, vâng theo mệnh lệnh của người trên một cách chính xác, và đó cũng là công phu tu tập diệt trừ bản ngã. Ai tuân thủ mệnh lệnh được là người giỏi tu, mà cũng là người góp phần làm cho Phật giáo được vững bền, nề nếp. Ban Quản Viện phải theo dõi phẩm chất vâng lời của Tu sĩ để khích lệ, khuyên bảo kịp thời, cũng như trách phạt đúng mức.

Quyền góp ý trước và sau mệnh lệnh

Tr. 70

Tu sĩ được phép góp ý trước khi người trên quyết định đưa ra mệnh lệnh, và được góp ý sau khi

📖 [Trang sách 71] thực thi mệnh lệnh. Còn sau khi mệnh lệnh đã đưa ra thì Tu sĩ phải chấp hành trọn vẹn.

Nội dung và cách ghi Nhật trình

Tr. 71

Trong cách thức báo cáo công việc hàng ngày, những cuộc tiếp xúc hàng ngày, Tu sĩ nên nêu rõ những người có liên quan, ví như, vào lúc mấy giờ cùng với huynh đệ nào làm gì, gặp ai, kết quả công việc thế nào, nội dung trao đổi ra sao, đề nghị Ban Quản Viện điều gì. Viết ngắn gọn nhưng đầy đủ. Cuốn sổ Nhật trình đó lúc nào cũng được sẵn sàng để cho Ban Quản Viện xem.

Ban Quản Viện kiểm soát Nhật trình

Tr. 71

Ban Quản Viện phải luôn nắm rõ các Nhật trình đó để kiểm soát tình hình, cũng như hiểu được tâm tư, nguyện vọng của Tu sĩ, và phải đối chiếu các báo cáo đó có ăn khớp hay không.

Tâm thái trước khen thưởng và trách phạt

Tr. 71

Khi Tu sĩ được người trên khen thưởng thì phải nhủ thầm trong lòng rằng mình chưa xứng đáng, còn phải cố gắng rất nhiều; khi Tu sĩ bị trách phạt thì phải vui mừng và nhủ thầm rằng rất cám ơn sự trách phạt này để mình được tiến tu. Ai vui mừng khi được khen hay phiền não khi bị trách phạt thì phải biết công phu tu hành còn yếu kém.

Phát nguyện giữ vững kỷ luật

Tr. 71

Kể từ khi vào chùa, mỗi ngày Tu sĩ phải phát

📖 [Trang sách 72] nguyện trước Phật rằng sẽ tuân thủ kỷ luật nghiêm chỉnh để góp phần xây dựng Phật Pháp vững bền.

Kỷ luật tạo nên sự đoàn kết vững chắc

Tr. 72

Kỷ luật giúp cho Tăng chúng đoàn kết vững chắc, kẻ xấu ít phá hoại được. Nếu toàn hệ thống Phật giáo đều vâng giữ kỷ luật chặt chẽ thì Phật Pháp sẽ đủ sức mạnh để chống lại các âm mưu phá hoại đạo Phật đang diễn ra từng ngày rất ráo riết.

Trách nhiệm của người lãnh đạo

Tr. 72

Để giúp cho Tu sĩ tuân thủ được kỷ luật, người trên phải cố gắng đưa ra những mệnh lệnh hợp lý, phải kiểm soát đời sống và Nhật trình của Tu sĩ thường xuyên, phải khen thưởng hay trách phạt chính xác, và nhất là phải hiểu được tâm tư nguyện vọng của Tu sĩ để khuyên dạy, đáp ứng kịp thời. Tu sĩ nào viết Nhật trình hay sẽ được khen thưởng để làm gương cho toàn Chúng.

Biểu tượng thiêng liêng của Nhật trình

Tr. 72

Cuốn Nhật trình sẽ được xem như một biểu tượng thiêng liêng của Tu sĩ không khác gì Y Bát vì từ nay đó là biểu tượng của Kỷ luật trong đạo Phật. Tu sĩ phải yêu quý, giữ gìn cẩn thận như là giữ gìn phẩm hạnh của mình. Cuốn Nhật trình đó có đóng dấu mộc của Chùa trước khi phát cho Tu sĩ sử dụng. Khi đã ghi đầy thì nộp cuốn đó và xin cuốn khác.

Sổ tổng hợp của người theo dõi

Tr. 72

Những người có trách nhiệm theo dõi thì

📖 [Trang sách 73] có hai cuốn, một cuốn cho mình và một cuốn để tổng hợp những tin tức nổi bật để báo lên Trụ trì Bổn sư.

Nhiệm vụ kiểm tra của Chúng trưởng

Tr. 73

Mỗi ngày Chúng trưởng phải đọc qua cuốn Nhật trình của các huynh đệ để nắm tình hình, đối chiếu với các Nhật trình khác, viết tổng hợp vào cuốn thứ hai, trình cho Bổn sư Trụ trì đọc.

Nghi lễ nhận sổ Nhật trình

Tr. 73

Tu sĩ nhận cuốn sổ Nhật trình với lòng thành kính nghiêm trang trong nghi lễ đặc biệt, như là lời hứa với Tam Bảo về phẩm chất kỷ luật mà mình sẽ tuân thủ suốt đời.

Cuốn Nhật trình chung của Đại chúng

Tr. 73

Ngoài ra, Đại chúng cần có một cuốn Nhật trình chung do Chúng trưởng ghi chép diễn biến hằng ngày của chúng.

Chương 7Trang sách 74

CHƯƠNG 7: QUY ĐỊNH

Lời mở đầu

Tr. 74

Quy định vừa là sự hướng dẫn đường lối cho Tự viện và Tu sĩ, vừa là sự bắt buộc tuân thủ. Ai vi phạm quy định sẽ bị nhắc nhở, cảnh cáo, giáo huấn hoặc một hình thức kỷ luật nào đó thích hợp.

Điều 1

Tr. 74

Tự viện có trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ, giáo hóa cho bất cứ ai đặt chân vào Chùa, dù là chỉ ở một ngày, hay ở lâu dài để được xuất gia. Lúc nào Tự viện cũng có sẵn chương trình, giáo án từ thấp lên cao để giảng dạy cho cư sĩ.

Điều 2

Tr. 74

Cư sĩ vào chùa phải tôn trọng Tu sĩ, tuân thủ theo những lề lối, quy tắc của Chùa, nhất là những người phát tâm công quả để xuất gia thì càng phải nghiêm túc giữ gìn Thanh quy.

Điều 3

Tr. 74

Tự viện tạo cơ hội cho quần chúng dễ dàng đến Chùa để học hỏi giáo lý, nhưng lại chọn lựa kỹ càng người được xuất gia làm Tu sĩ.

📖 [Trang sách 75] Nếu cần, phải cho cư sĩ công quả thời gian dài để huấn tập công đức, thử thách đạo tâm, xác định lý tưởng tu hành.

Điều 4

Tr. 75

Thông thường nên cho xuất gia người đã có những tiêu chuẩn như sau: đã công quả lâu dài, đã xác định lý tưởng tu hành, đã chuyển biến đức hạnh, đã trưởng thành về tuổi tác, đã học xong lớp 12, có sự ưng thuận của gia đình, không gặp rắc rối về pháp luật, không có khuyết tật về thể hình và tâm thần, nắm vững Thanh quy của Tự viện, đã nhập môn Phật Quang Quyền.

Điều 5

Tr. 75

Sau khi đã xuất gia, Bổn sư có trách nhiệm lo nuôi dạy chu đáo đệ tử của mình để đệ tử yên tâm tu học, mà không phải lo lắng đi tìm nguồn tài trợ từ gia đình hoặc tín đồ riêng nữa. Bổn sư phải thương yêu đệ tử mình như con em ruột thịt.

Điều 6

Tr. 75

Tu sĩ trong Tự viện làm bất cứ việc gì, hoặc đi học bên ngoài, phải được phép của Bổn sư hoặc Trụ trì. Phải xem mệnh lệnh của Thầy là thiêng liêng, phải nguyện lòng trung thành với Thầy Tổ sâu sắc.

Điều 7

Tr. 76

Mọi sự liên lạc với người ngoài Tự viện đều phải nằm trong sự kiểm soát của người trên. Mọi thư từ, gặp gỡ, điện thoại, email, internet... đều phải thông qua người trên (Ban Quản Viện, Trụ trì...). Nếu không được phép của Thầy Tổ, Tu sĩ không được sở hữu điện thoại hoặc máy vi tính. Tu sĩ luôn nguyện lòng minh bạch tất cả việc làm và tiếp xúp của mình cho Đại chúng và người trên biết rõ.

Điều 8

Tr. 76

Tu sĩ cần tiếp xúc với ai, làm việc gì, hoặc ai nhờ vả chuyện gì, phải xin phép và trình bày cụ thể lên Ban Quản Viện và Sư Phụ. Luôn luôn tuân thủ nguyên tắc làm việc chung: 1- Xin phép Sư Phụ, 2- Phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện, 3- Báo cáo công việc cho nhau, 4- Báo cáo mọi việc lên Ban Quản Viện và Sư Phụ. Khi Ban Quản Viện hay Sư Phụ sai bảo, phải cố gắng hoàn thành công việc rồi báo cáo lên.

Tu sĩ khi làm các Phật sự hoặc giữ Tự viện trực thuộc Tổ đình thì phải thường xuyên báo cáo thật chi tiết các hoạt động Phật sự, tài chính, tu tập về Tổ đình hàng ngày.

Điều 9

Tr. 77

Tu sĩ hướng đến đời sống chung đồng từ tinh thần đến vật chất trong Đại chúng. Vì thế, Tự viện nên có người quản lý tài sản tiền bạc chung chứ không để cho Tu sĩ giữ tiền riêng, cũng không được gợi ý để xin tiền và tài sản từ Phật tử hoặc người thân. Tuy Tu sĩ không giữ tiền riêng, nhưng Trụ trì bảo đảm chăm sóc cho Đại chúng với tất cả khả năng của mình. Ai được phép giữ tiền thì phải có sổ sách thu chi minh bạch để trình cho người trên kiểm soát.

Điều 10

Tr. 77

Tự viện sử dụng tiền bạc hợp lý trong việc chi dùng cho nuôi dạy đệ tử, sửa sang, mở rộng cơ sở giáo hóa chúng sinh, từ thiện xã hội và nếu có thể nên đóng góp ủng hộ cho Giáo hội để Giáo hội có thể làm nhiều Phật sự quan trọng, cũng như, có khi Giáo hội cũng phải giúp đỡ cho Tự viện.

Điều 11

Tr. 77

Tu sĩ không xem tuổi đời là quan trọng, mà xem tuổi đạo là chính. Tuy nhiên, đạo hạnh và trí tuệ mới thật sự là giá trị của Tu sĩ. Tu sĩ ủng hộ cho bất cứ ai được Trụ trì giao chức vụ, mà không ganh tị, không so đo tuổi tác.

Điều 12

Tr. 78

Tu sĩ được sắp xếp ở tập thể trong những liêu phòng rộng lớn, mục đích tạo thành tâm hồn hòa nhập Đại chúng, không còn riêng tư, không còn giấu giếm, giám sát lẫn nhau, minh bạch với nhau, thương yêu gắn bó nhau.

Điều 13

Tr. 78

Được phép của Trụ trì, những Tu sĩ đến giai đoạn nhập thất tĩnh tu mới được quyền ở riêng biệt lập, nhưng phải bảo đảm không có khách xâm nhập vào Tịnh thất. Ngoài ra, những người bệnh, người có đạo hạnh, tuổi tác cao, có uy tín, cũng có thể được Trụ trì cho ở riêng.

Điều 14

Tr. 78

Tu sĩ phải có tác phong nhanh nhẹn, giữ đúng thời khóa quy định của Tự viện mình với các giờ công phu tu tập, giờ ăn, giờ học, giờ tập thể dục, giờ tập võ và khí công, giờ nghỉ... Thời khóa là biểu hiện đầu tiên của một Tự viện có nề nếp. Khi có duyên sự đặc biệt thì phải xin phép đàng hoàng.

Điều 15

Tr. 78

Tu sĩ không được kết thân riêng, mà phải sống thương yêu chan hòa chung tất cả. Tự viện nghiêm cấm mọi biểu hiện tình cảm

📖 [Trang sách 79] riêng tư, bè phái, chia nhóm, chỉ trích sau lưng, bao che sai phạm.

Điều 16

Tr. 79

Tu sĩ không được bỏ mặc cho huynh đệ mình phạm lỗi, phải tìm cách giúp huynh đệ vượt qua lỗi lầm, bằng cách góp ý riêng, hoặc trình lên người trên. Tuy nhiên, cũng phải cẩn thận vì chưa chắc sự đánh giá của mình đã chính xác.

Điều 17

Tr. 79

Tu sĩ không được chủ quan tin vào ý nghĩ của mình, không được tùy ý đánh giá thương ghét theo ý mình, phải thuận theo ý của Sư Phụ, và biết buông bỏ ý riêng của mình, vì hạnh nhu thuận vâng lời tạo nên sức mạnh cho chính mình, cho Chùa và cho cả đạo Phật.

Điều 18

Tr. 79

Tu sĩ phải là một công dân gương mẫu, trung thành với Tổ quốc trọn lòng, tuân thủ luật pháp quốc gia nghiêm chỉnh, luôn hợp tác với Chính quyền trong Phật sự hoặc các công tác xã hội.

Điều 19

Tr. 79

Tu sĩ phải nắm vững Thanh quy này, thường xuyên xem lại hàng tháng. Giáo hội sẽ cho

📖 [Trang sách 80] kiểm tra về Thanh quy trong những kỳ sát hạch Thọ Giới, thi tuyển vào trường Phật học các cấp. Trụ trì sẽ bị khiển trách nếu Tu sĩ của chùa mình không thông thuộc Thanh quy này.

Điều 20

Tr. 80

Tu sĩ phải nắm vững Hiến chương của Giáo hội, và sẽ được kiểm tra sát hạch trong các kỳ thi Thọ Giới, thi vào trường Phật học, Học viện, thi tốt nghiệp các trường như thế. Tu sĩ không nắm vững Hiến chương của Giáo hội thì Trụ trì sẽ bị khiển trách.

Điều 21

Tr. 80

Nền tảng của sự tu hành là lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Tu sĩ phải huấn tập lòng tôn kính Phật hằng ngày bằng công phu lễ Phật siêng năng, thiết tha hướng về Phật, sẵn sàng hy sinh thân mạng vì Phật, và truyền bá lòng tôn kính Phật cho mọi người.

Điều 22

Tr. 80

Tu sĩ phải huấn tập lòng từ bi rộng lớn bằng công phu quán từ bi hằng ngày, sao cho thành tựu lòng thương yêu chúng sinh sâu đậm, có thể chấp nhận thiệt thòi về mình để chúng sinh được lợi ích, để có thể phá tan tâm vị kỷ sâu kín từ lâu.

Điều 23

Tr. 81

Tu sĩ phải giữ tâm khiêm hạ như đất, dù được quần chúng kính trọng, vẫn xem mình chỉ như là cát bụi, cỏ rác mà thôi. Tâm khiêm hạ giúp tránh được tâm ô nhiễm.

Điều 24

Tr. 81

Ngay từ khi mới vào Chùa, Tu sĩ đã phải được hướng dẫn cách ngồi kiết già chuẩn mực đúng tư thế, vì dù tu pháp môn nào, tư thế tọa Thiền của Phật vẫn là tư thế lý tưởng của Phật giáo. Tu sĩ phải nắm vững cách dụng công Thiền định và thuộc lòng cẩm nang “Khí công là nền tảng của Thiền” để thực hành tu tập suốt cuộc đời.

Điều 25

Tr. 81

Ngay khi ở chùa, Tu sĩ phải được dạy về các giáo lý căn bản vững chắc trước khi đi sâu vào pháp môn tu tập tâm linh. Đó là giáo lý về Luật Nhân quả Nghiệp báo, Tứ Diệu đế, Mười hai Nhân duyên, Bát Chánh Đạo, tiến trình Tứ thiền, Tứ Thánh quả, Vô Ngã, Lịch sử Đức Phật, và một phần ngôn ngữ Hán, Pali.

Điều 26

Tr. 81

Dù tu theo pháp môn nào, tông phái nào, Tu sĩ cũng phải được hướng dẫn các phương pháp căn bản cho việc nhiếp tâm như Chánh niệm,

❖ ❖ ❖

"Giới luật là thọ mạng của Phật Pháp, Giới luật còn là Phật Pháp còn."